Đèn gỗ Mặt trời OM (tiếng Phạn)

Mang biểu tượng chữ OM phối hợp độc đáo tỏa sáng như mặt trời tỏa sáng, chiếc đèn ngủ đem ánh sáng đến về nghĩa đen và bóng. Thông điệp "Nơi nào còn màn đêm vô minh, nơi đó có ánh sáng Pháp tỏa rạng" Mỗi người sẽ được gieo 1 hạt giống để thắp lên ngọn đèn để tiếp tục trên con đường tâm linh của mình.

Đèn gỗ Mặt trời OM (tiếng Phạn)

Mang biểu tượng chữ OM phối hợp độc đáo tỏa sáng như mặt trời tỏa sáng, chiếc đèn ngủ đem ánh sáng đến về nghĩa đen và bóng. Thông điệp "Nơi nào còn màn đêm vô minh, nơi đó có ánh sáng Pháp tỏa rạng"

 Mỗi người sẽ được gieo 1 hạt giống để thắp lên ngọn đèn để tiếp tục trên con đường tâm linh của mình.

Kiểu dáng độc đáo, thiết kế đẹp mắt, là món quà tặng tinh thần cho người thân, mừng thọ.

Bảng thông số đèn gỗ:

Tên SP Đèn gỗ Mặt trời OM (tiếng Phạn)
Chất liệu

Gỗ khắc tinh xảo lót giấy lụa

Chất liệu gỗ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, bề mặt mịn, đẹp, có hương thơm tự nhiên, bên trong có lót 1 lớp giấy lụa mỏng, giúp anh sáng tỏa đều, nhẹ nhàng, không bị chói.

Kích thước 15x15x15cm
Đặc điểm
  • 100% Handmade
  • Bóng đèn sợi đốt 5W, tiêt kiệm điện, công tắc chiết áp điều chỉnh độ sáng
Khối lượng 260-420 gr
Xuất xứ

Việt Nam

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 Ý nghĩa chữ OM/ AUM (tiếng Phạn):
 
Chữ Om hay AUM viết theo mẫu Devanagari là ओम्, Trung Quốc viết là 唵, và Tây Tạng ༀ. OM phát âm theo tiếng Việt là "ôm"  với âm Ô kéo dài âm. Các biểu tượng của Chữ Om, ओम, được gọi là Omkar (ओम् - कार; Omkaar), Onkar (ओंकार; ONkaar), và ओंकार có thể viết một cách khác : ओँकार (ONnkaar). Chữ Om cũng có những tên khác như là Udgitha, Oṃkāra, Praṇava, Akṣara, Ekākṣara hay Pranava.
 
Âm Thanh này bao gồm tất cả sự cấu tạo của Vũ Trụ,  đồng nhất với vũ trụ mà vũ trụ lực của chính nó là tâm thức nằm trong bản thể của tất cả vạn vật. Cho nên thường dùng tiền tố và hậu tố trong các câu Thần chú của đạo Phật, đạo Hinđu, đạo Giai Na, đạo Sikh, đạo Bà La Môn.
 
OM được xem là tượng trưng của cả hai: SẮC & ÂM. Chữ OM được biểu diễn bằng ba vòng cung và một chấm nhỏ. Ba vòng cung biểu diễn sắc thể, ý thức và vô thức.
 
Chấm nhỏ nằm ngoài ba vòng cung đó biểu hiện trí huệ cao nhất dung chứa cả ba. Hình dạng của chữ OM là một biểu hiện cụ thể của Chân Như. Không có khái niệm hay vật thể nào trong vũ trụ có thể tồn tại độc lập, tất cả đều là biến thể của một Chân Tâm duy nhất, có liên hệ với Chân Tâm đó và vì vậy chúng liên hệ với nhau.
 
Theo kinh Veda (Vệ Đà), Om hay Aum được xem như là biểu hiện đầu tiên của Brahman qua sự kết hợp của những hiện tượng hình thành trong vũ trụ. Bởi vì những cơ bản trong chiêm tinh học của Hindu có khái niệm rằng : Tất cả những hiện tượng hình thành trong vũ trụ đều bắt nguồn từ những rung động của ' Om hay Aum '. ," âm tiết này là thực tại tối cao. Khi chúng ta đã hiểu tất cả mọi thứ chúng tôi muốn, chúng tôi đều có nó "( Áo Nghĩa Thư Ấn).
 
OM - một trong các biểu tượng quan trọng của phái Yoga (Du già) : khi nó thoát ly thuật thần bí và ma lực của các thực hành hiến tế, hay thoát khỏi các lối suy luận triết lý của tư tưởng trước đây, thì nó biến thành một phương tiện thiết yếu trong sự thực hành thiền định. Một phương thức tâm lý để cứu trợ.
 
Trong Hindu Maitrâyana Upanisad, OM/ AUM được so sánh như một mũi tên mà đầu nhọn là tư tưởng và nó xuất phát từ cái cung là thân thể con người, nó xuyên qua bóng đêm vô minh để đạt đến ánh sáng của trạng thái cùng cực.
 
OM là tâm thức thanh tịnh (turìya). OM là âm thanh tượng trưng cho sức mạnh của tâm thức nội tại, của Phật tính trong thế giới giả tạm, trong ảo ảnh (Mãya) này. Bởi vì nó bao gồm tất cả và vượt qua mọi biểu thức qua sự phân tách của : A. U . M  trong 3 trạng thái như sau :
  • A được hiểu như là trạng thái thức tỉnh (jàgrat).
  • U được hiểu như là trạng thái mơ màng (svapna).
  • M được hiểu như là trạng thái ngủ say (susupti) 
Thức, ngủ và mơ là ba trạng thái hoạt động bình thường của bộ não. Thức tỉnh là sự chỉ về tâm thức chủ quan đối với thế giới bên ngoài. Trong khi thức, các giác quan bên trong và ngoài cùng hoạt động với sự tác ý của thức. Mơ màng là sự chỉ về tâm thức của thế giới nội tại, tức là tư tưởng, tình cảm, các điều ước nguyện, ưa thích, gọi chung là ý thức tri giác.
 
Om  hay AUM trong Ấn giáo :
  • A là sự khởi đầu, sinh, và người tạo ra thần Brahma
  • U đại diện cho sự tiếp tục của cuộc sống, và thần Vishnu.
  • M là kết thúc, cái chết, và các tàu khu trục thần Shiva.
Những ý nghĩa khác của chữ AUM trong Phật học, nhất là Kim Cang xem như một Mantra. 
  • OM có nghĩa là Quy mệnh
  • OM tượng trưng cho thân các vị Phật trong các câu thần chú
  • OM đóng cánh cửa luân hồi
  • OM thanh tịnh hóa bản thân
  • OM là lời cầu nguyện hướng về thân thể của các vị Phật
  • OM là Trí tuệ thanh thản, an bình
  • Om cũng là thân , khẩu , ý.

Bản thể của vạn vật là đất
Bản thể của đất là nước
Cây cối là bản thể của nước
Người là bản thể của cây cối
Bản thể của người là lời nói
Bản thể của lời nói là thi ca Vệ đà
Bản thể của thi ca Vệ đà là Âm nhạc Vệ đà
Bản thể của âm nhạc Vệ đà là Udgitha – từ OM
Udgitha là bản thể tối cao trong các bản thể
Và xứng đáng với vi thể cao nhất : vi thể thứ tám

(Chândogya Upoanisad)
 
Chữ AUM có 100 ý nghĩa khác nhau và là một từ tối cao và từ tạo được mọi điều. Nếu bạn đang hành thiền trong im lặng sâu sắc, bạn có thể nghe những âm thanh trong AUM. Đó là những âm thanh nguyên thủy của vũ trụ.
 
THÁNH NGỮ AUM: >>>  
 
 Ý nghĩa chữ OM MANI PADME HUM:
 
Thắp lên ngọn đèn trí tuệ, dâng cao ánh sáng từ bi
ཨཱོཾ་མཎི་པད་མེ་ཧུཾ་ Om mani padme hum - om mani padme hum - om mani padme hum ཨཱོཾ་མཎི་པད་མེ་ཧུཾ...
 
 
Om Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, được xem là thần chú cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara) và là thần chú quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nó còn được mệnh danh là “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” tức là “Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ”
  • Om : Quy mệnh
  • Mani : Viên ngọc như ý
  • Padme : Bên trong hoa sen
  • Hum : Tự ngã thành tựu
Có thể dịch câu này là Om, ngọc quý trong hoa sen, Hum. (Om, to the Jewel in the Lotus, hum). Theo âm Hán-Việt, câu này được đọc là Úm ma ni bát ni hồng hoặc Án ma ni bát mê hồng.
 
Thông thường người ta không giảng nghĩa thần chú, nhưng ở đây cần nói thêm là: “ngọc quý” biểu hiện cho Bồ-đề tâm (bodhicitta), “hoa sen” chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên thần chú có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Đối với Phật giáo Tây tạng thì Om Mani Padme Hum chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới.
 
Các thần chú là biểu hiện của âm thanh bắt nguồn từ sự rỗng không. Nó là âm thanh xác thực của khoảng trống không. Bắt nguồn từ khái niệm về chân lý tuyệt đối và trạng thái rỗng không, câu chú không hiện hữu. Không có âm thanh hay câu chú.
 
Âm thanh và câu chú, như tất cả những dạng biểu thị khác nhau, đều ở vị trí của cõi tương đối xuất hiện từ rỗng không. Trong cõi tương đối, mặc dù âm thanh chính nó không có thực thể, nó vẫn có năng lực để chỉ định, đặt tên, và có sự hoạt động ở tâm thức.
 
Bằng cách niệm danh hiệu của ngài để những phẩm chất tâm thức nầy được truyền đến ta. Như chúng ta đồng hóa chúng ta với tên họ và những gì liên hệ đến nó, cũng bằng cách nầy, trên bình diện tương đối, thần chú đồng nhất với vị thần. Cả hai trở thành một thực tại duy nhất. Khi một người niệm chú, người ấy nhận được vẻ thanh nhã của vị thần ; bằng cách hình dung vị thần, vị thánh ấy, người niệm chú nhận được vẻ thanh nhã không khác biệt của các vị thánh.
- OM tượng trưng cho thân các vị Phật, các thần chú đều bắt đầu từ âm nầy.
- MANI nghĩa « châu báo » trong Sanksrit ;
- PADME, phát âm theo Sankrit, or PEME trong tiếng Tây Tạng, có nghĩa « hoa sen » ;
- HUNG tượng trưng cho tâm thức tất cả các vị Phật và thường là câu cuối trong các thần chú.
- MANI nói về châu báo mà Bố Tát Quan Âm (Chenrezig) cầm trong hai tay giữa và PADME là hoa sen cầm ở tay trái thứ nhì. Khi gọi MANI PADME là gọi tên ngài Chenrezig xuyên qua những phẩm hạnh của ngài : « Người đang cầm châu báu và hoa sen. » « Chenrezig » hoặc « Hoa sen báu » là hai tên gọi của ngài Chenr
ezig (Quán Âm).
 
- OM đóng cánh cửa luân hồi trong cõi trời ;
- MA, cánh cửa cõi thần, A-tu-la
- NI, cánh cửa cõi người
- PAD, cánh cửa cõi súc sanh
- ME, cánh cửa cõi ngạ quỷ ;
- HUM, cánh cửa cõi địa ngục.
 
Mỗi âm tiết được xem như có ảnh hưởng thanh tịnh hóa :
 
- OM thanh tịnh hóa bản thân ;
- MA thanh tịnh hóa lời nói ;
- NI thanh tịnh hóa tâm thức ;
- PAD thanh tịnh hóa những cảm xúc mâu thuẫn ;
- ME thanh tịnh hóa điều kiện ẩn tàng ;
- HUNG thanh tịnh hóa tấm màn che phủ trí tuệ.
 
Mỗi âm tiết là một bài cầu nguyện :
 
- OM lời cầu nguyện hướng về thân thể của các vị Phật ;
- MA lời cầu nguyện hướng về lời nói của các vị Phật ;
- NI lời cầu nguyện hướng về tâm thức các vị Phật ;
- PAD lời cầu nguyện hướng về những phẩm chất của các vị Phật ;
- ME lời cầu nguyện hướng về hoạt động của các vị Phật ;
- HUNG gom góp sự thanh nhã của thân, khẩu, ý, phẩm chất, và hoạt động của các vị Phật.
 
Sáu âm tiết liên hệ đến sáu ba-la-mật, sáu sự hoàn hảo được chuyển hóa :
 
- OM liên hệ đến sự rộng lượng ;
- MA, đạo đức ;
- NI, kiên trì, nhẫn nhịn,
- PAD, chuyên cần,
- ME, chú tâm,
- HUNG, trí tuệ.
 
Sáu âm tiết cũng liên quan đến sáu vị Phật, ngự trị trên sáu Phật gia :
 
-OM liên hệ đến Ratnasambhava (Bảo-Sanh Phật) ;
- MA, Amaghasiddi (Bất-Không-Thành-Tựu Phật) ;
- NI, Vajradhara (Kim Cương Trì / Phổ-Hiền Bồ Tát) ;
- PAD, Vairocana (Lô-Xá-Na Phật) ;
- ME, Amitabha (A-Di-Đà Phật) ;
- HUNG, Akshobya (A-Súc-Bệ Phật) .
 
Cuối cùng, sáu âm tiết liên hệ đến sáu trí tuệ :
 
- OM = Trí tuệ thanh thản, an bình ;
- MA = trí tuệ hoạt động ;
- NI = trí tuệ tự tái sanh ;
- PAD = trí tuệ pháp giới ;
- ME = trí tuệ phân biệt ;
- HUNG = trí tuệ như gương.
 
 
Ở Tây Tạng, mọi người thường tụng niệm thần chú của ngài Chenrezig (Quan Âm). 
 
- OM là màu TRẮNG ;
- MA, màu XANH LÁ CÂY ;
- NI , màu VÀNG ;
- PAD, màu XANH DA TRỜI ;
- ME, màu ĐỎ ;
- HUNG, màu ĐEN.
 
Câu chú có thể được tóm tắt như sau : « Tôi cầu xin hiện thân của năm dạng và năm ý thức chuyển hóa, Vị bồ tát sỡ hữu viên ngọc và hoa sen để bảo hộ tôi thoát khỏi những nỗi đau khổ của chúng sinh trong sáu cõi. »
 
Vậy Lục Tự Đại Minh Chú, Om mani padme hum, có nghĩa là dựa vào đường tu kết hợp thuần nhất phương tiện và trí tuệ mà người tu có thể chuyển hóa thân miệng ý ô nhiễm của mình thành thân miệng ý thanh tịnh của Phật. 

 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha

HỖ TRỢ ONLINE

  • Tư vấn kỹ thuật

    0984 311 330

  • Tư vấn mua hàng

    091 888 7701

  • Tư vấn HCM

    0169 233 4094

KẾT NỐI FANPAGE

X

Theo NewAgeHoangKimShop.com

CHAT LIVE TRÊN FANPAGE